Đói rớt nước mắt ở Là Si

Thứ năm - 11/12/2014 04:49
[Sống Hướng Thiện] - Đói rớt nước mắt ở Là Si

"Đời sống của người La Hủ ở bản Là Si phụ thuộc 70% vào việc săn bắt, hái lượm trong rừng, còn lại trông chờ vào trợ cấp gạo cứu đói của Nhà nước (3 tháng/năm) và làm nương rẫy", đó là lời của Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Thu Lũm (huyện Mường Tè, Lai Châu) Chu Xé Lù.

22042013224014 1


Không có cơm ăn, trẻ em phải lên rừng đào củ mài về nướng ăn cho đỡ đói.

Bỏ bản vào rừng kiếm ăn

Muốn gặp người La Hủ ở bản Là Si thì chỉ có cách duy nhất là đi bộ nửa ngày xuyên qua những tán rừng rậm rạp. Ở giữa rừng sâu núi thẳm, tách biệt hoàn toàn với xã hội và chưa bao giờ có ý niệm về pháp luật, từ bao đời nay, người La Hủ ở Thu Lũm có tập tính du canh, du cư. Đến mỗi vùng đất mới, họ tự dựng cho mình một chiếc lều mái lá tạm bợ rộng khoảng 3-4 m2 hoặc tìm hang đá để trú ngụ. Tối, cả gia đình (kể cả con dâu) ngủ chung một chiếc giường, còn ban ngày đào củ nâu, củ mài, hái quả ăn. Khoảng một tuần sau, khi lá (thường là lá chuối rừng) che mưa nắng của lều úa vàng cũng là lúc họ vơ vét đồ đạc di chuyển đến nơi khác.

Trẻ em ở đây có cháo loãng ăn là tốt lắm rồi nhà báo ạ. Gạo đấy là Nhà nước cứu đói cho, chứ người La Hủ không trồng được đâu. Ăn hết gạo thì ăn sắn nương, hết sắn thì không còn cái gì để ăn nữa. Không có bố mẹ chăm nom, có những đứa trẻ mới 6 tuổi đã phải tự lực cánh sinh, khi đói bụng thì chúng phải cầm cuốc, thuổng vào rừng đào củ nâu, củ mài về nướng; tìm không thấy củ nâu, củ mài thì ăn thân cây, dễ cây rừng, miễn sao có cái bỏ bụng để sống. 
Thầy giáo Sừng Phì Che.

Trong ảnh: Đói quá, trẻ em bản Là Si phải vào rừng bẻ rễ cây ăn

Đời sống khắc khổ, đói, rét, bệnh tật và lạc hậu là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ chết trẻ của người La Hủ tăng vọt. Trước nguy cơ suy kiệt giống nòi, chính quyền đã đề ra hẳn một chương trình Bảo tồn và Phát triển người La Hủ ở Mường Tè.

Những ngày tháng 4, bao trùm lên bản Là Si là một không khí hoang tàn, vắng lặng. Người lớn tuyệt nhiên không thấy, chỉ còn lại hơn chục đứa trẻ lít nhít, áo quần rách rưới, mặt mày đen đúa, da dẻ cáu bẩn đang lăn lê bò toài trên nền đất. Thấy có người lạ tới, chúng bảo nhau lẩn vào chỗ khuất. Tôi càng tiến lại gần, chúng càng lùi xa hơn.

Vì cửa bị hỏng nên nền nhà của anh Pờ Pó Hừ (40 tuổi) bị trâu phóng uế 4 – 5 đống phân, ruồi nhặng bay vo ve, chưa đến cửa đã ngửi thấy mùi hôi thối. Ngay cạnh đó là nhà của anh Lỳ Nhu Hừ, tường gỗ đã bị gãy vài tấm ván, một con bê có thể chui lọt, trước cửa cỏ dại mọc um tùm.

Ngay đến nhà của công an viên Lỳ Phì Po (64 tuổi) cũng luôn trong tình trạng kín cửa. Thầy giáo cắm bản Sừng Phì Che tâm sự: “Tôi vào đây dạy học từ ngày 26/8/2012, tính đến nay đã được hơn 6 tháng, thế nhưng mới thấy ông Po về nhà 2 lần, mỗi lần về chỉ 1-2 ngày”.

Giống như công an viên Lỳ Phì Po, vợ chồng trưởng bản Lỳ Mò Giá cũng bỏ bản sống biền biệt ngoài rừng, để lại 4 đứa con nhỏ ở nhà, nửa tháng mới về thăm một lần. Khi chúng tôi đến thăm, con gái cả của ông Giá là Lỳ Gió Pa (15 tuổi) cùng 3 đứa em Lỳ Lỳ Mư (6 tuổi), Lỳ Hà Pứ (4 tuổi) và Lỳ Mụ Xá (2 tuổi) đang ngồi thu lu dưới nền đất trước bếp củi nấu nồi cháo lõng bõng nước, đứa nào đứa nấy đều gầy nhom, đen nhẻm. Chỗ ngủ của chúng được ghép lại bằng đủ vật liệu, từ gỗ đến phên tre, chỗ lồi chỗ lõm.


Lều của gia đình anh Lỳ Nhu Hừ ở trong rừng cao chỉ đến cổ người đàn ông trưởng thành


Bé Lỳ Tò Mư mới 4 tuổi đã phải chăm em gái

Khóc thét giữa đêm vì đói

Cũng vì cái đói lay lắt ấy mà có nhiều thời điểm, ngoài 3 giáo viên và 2 đồng chí bộ đội biên phòng, cả bản không có một bóng người. Thầy Chu Lò Phạ, 40 tuổi, là giáo viên tiểu học cắm bản, buồn rầu kể: “Nhiều lúc muốn khóc lắm nhưng không khóc được. Cứ đói là người lớn lại dẫn con vào rừng tìm đồ ăn. Nhà trường giao cho chúng tôi nhiệm vụ dạy học, nhưng có hôm không học sinh nào đến lớp. Học đến lớp 3 rồi nhưng nhiều em vẫn chưa thuộc hết mặt chữ cái. Cả bản không ai nói được tiếng phổ thông nên mọi sự giao tiếp phải truyền đạt qua tiếng La Hủ. Chúng tôi vào đây dạy học chưa lâu nên nhiều từ không biết diễn đạt thế nào cho học sinh hiểu. Mỗi tháng vài ba lần tôi cùng thầy Che và thầy Giá (giáo viên mầm non) đi vận động dân bản đưa con em của họ về học, nhưng cứ đến gần lều, thấy tiếng chó sủa là bố mẹ lại giấu tiệt con, thế là công leo bộ cả ngày đường bằng không. Đau lắm!”


Khung cảnh hoang vắng của bản Là Si

Chủ tịch xã Chu Xé Lù chia sẻ: Trước đây người La Hủ sống gần như không có tổ chức. Khi lập bản mới chính quyền xã phải cử thầy mo (ông Lỳ Mò Giá) làm trưởng bản vì dân tộc này cực kỳ mê tín. Các tổ chức hội đã bắt đầu hình thành nhưng chưa có hiệu quả. Trước mắt, chúng tôi xây dựng phong trào là chính thôi, chứ còn chất lượng thì không ai có thể nói được. Bao giờ dân định canh, định cư rồi thì mới thay đổi nhận thức được. Ở đây, sự lao động của người Là Si (làm nương) chỉ đủ ăn khoảng 1 – 2 tháng, cộng thêm 3 tháng Nhà nước trợ cấp gạo cứu đói. Còn lại 70% dựa vào việc khai thác sản vật tự nhiên. Tình trạng hôn nhân cận huyết vẫn còn gay gắt, anh em 2 đời đã lấy nhau là chuyện bình thường. Trai gái thích nhau cứ thế về nhà nhau ở mà không cần tổ chức đám cưới, vì… quá đói nghèo.

Tìm đến nơi ở của gia đình anh Lỳ Nhu Hừ ngoài rừng (cách bản Là Si hơn 3 km), lòng tôi quặn thắt lại khi chứng kiến cảnh hai vợ chồng anh cùng đứa con trai hơn 1 tuổi sống chui rúc trong một căn lều bé tí tẹo, rộng khoảng 5 m2, mái lợp bằng tôn mỏng nên nóng hầm hập, nóc chỉ cao đến cổ người lớn nên khi đã vào trong là không thể đứng thẳng, tứ phía trống huếch hoác.


Lớp học 1 thầy, 1 trò


Không có người lớn chăm sóc, trẻ em trong bản Là Si tụ tập cùng chơi với nhau

Trong lều chỉ kê một tấm dát giường sát đất làm chỗ ngủ. Ngay kế bên là một bếp củi đang đun nước, khói bay mù mịt. Ngoài một cái nong và 2 chiếc can đựng nước thì không có gì đáng giá. Vì không biết tiếng bản địa nên anh Che làm nhiệm vụ phiên dịch. Tôi hỏi: Ở đây nắng nóng thế sao không về nhà ở? Anh Hừ bảo: Tí nữa cả nhà ra khe suối tránh nóng, tiện thể lấy chuối ăn luôn, đến chiều tối mát lại về đây ở thôi. Về bản không có gì ăn, đói lắm. Tôi hỏi tiếp: Bộ đội biên phòng đã khai hoang ruộng cho gia đình mình rồi, sao không trồng lúa lấy cái ăn? Ồ, người mình không quen làm ruộng, làm ruộng vất vả và lâu được ăn lắm, anh Hừ trả lời.

Thiếu uý Đỗ Tuất Nhâm (31 tuổi), ở đồn biên phòng ở bản Là Si, đồng thời phụ trách việc khám và chữa bệnh, cho biết: Trẻ con ở đây mới sinh ra đã quen với điều kiện sống khắc khổ rồi nên sức đề kháng rất tốt, thỉnh thoảng chỉ mắc những bệnh thông thường như cảm cúm, xổ mũi, nhức đầu. Tuy nhiên, hầu như đứa nào cũng thiếu dinh dưỡng bởi tất cả đều đói ăn.

Kể về những khó khăn khi cắm bản, anh Nhâm tâm sự: Sống giữa rừng thế này nếu không chịu khó leo núi nửa ngày đường gùi hàng từ bản Coòng Khà vào, thì đến hạt muối cũng không có để ăn.

Đêm. Bản Là Si thường vang lên những tiếng khóc não nề, chua xót của trẻ nhỏ. Tôi vốn khó ngủ nên trằn trọc liên hồi. Thiếu uý Nhâm ngủ bên giường bên cạnh quay sang bảo: Bọn trẻ đói quá nên quấy khóc đấy!

Dạo quanh bản Là Si, tôi thực sự xót xa trước cảnh tiêu điều nơi đây. Hơn 70% ngôi nhà trong bản bị bỏ hoang phế, trống hoang hoác, mạng nhện giăng chằng chịt, chăn màn, gường chiếu bị chuột gặm rách bươm.

Nguồn tin: sht

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây